Bệnh lao thanh quản là căn bệnh nguy hiểm như thế nào?

34

Bệnh lao thanh quản là một bệnh mắc phải do khuẩn lao gây ra. Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở cổ họng. Biểu hiện thường thấy nhất là đau họng, ho có đờm, lở loét trong thanh quản. Bệnh này nguy hiểm cụ thể như thế nào?

Trên thực tế, có nhiều lý do gây ra khản giọng. Chẳng hạn như polyp dây thanh âm, nốt u dây thanh, viêm thanh quản và thậm chí là ung thư thanh môn. Nhưng cũng có một loại đặc biệt gây khàn giọng, đó là – lao cổ họng.

Tìm hiểu về bệnh lao thanh quản

Bệnh lao thanh quản do Mycobacterium tuberculosis gây ra, một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn mãn tính. Bệnh đặc trưng bởi sự hình thành các u hạt trong mô bị nhiễm trùng của thanh quản và các bệnh dị ứng qua trung gian tế bào. Đây là bệnh lao ngoài phổi phổ biến nhất trong bệnh lao. Và nó cũng là một bệnh u hạt của thanh quản.

Tìm hiểu về bệnh lao thanh quản.

Viêm thanh quản do lao đã trở nên ít phổ biến hơn. Tuy nhiên, trong 20 năm trở lại đây, tỷ lệ mắc lao thanh quản đang có xu hướng gia tăng. Tuổi khởi phát của bệnh nhân trên 40 – 50 tuổi. Theo báo cáo, tỷ lệ nam nữ mắc bệnh lao cổ họng là 3,6: 1 đến 2: 1.

Bệnh lao thanh quản có lây không? Mắc bệnh thanh quản do lao có thể lây nhiễm qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây lan qua đường máu hoặc bạch huyết. Trong đó lây nhiễm qua đường tiếp xúc là chính. Bệnh lao phổi nặng có vi khuẩn trong đờm, khi ho ra đờm dính vào niêm mạc hoặc các nếp niêm mạc của thanh quản.

Vi khuẩn lao xâm nhập vào niêm mạc sâu qua vết thương nhỏ hoặc lỗ ống. Và nhân lên ở đó gây bệnh, lây nhiễm do tiếp xúc. Hầu hết các khối u nguyên phát của bệnh lao lây lan qua đường máu hoặc mạch bạch huyết là bệnh lao tiết niệu hoặc bệnh lao xương.

Các loại lao thanh quản là gì?

Có ba loại: loại thâm nhiễm, loại loét và loại khối. Loại này thường xảy ra ở phía sau thanh quản, vùng não thất và viêm nắp thanh quản. Nguyên nhân là do nhiễm trùng lao. Sau khi bị bệnh cần được điều trị kịp thời và cách ly.

Các loại lao thanh quản.

Lao thanh quản có nguy hiểm không? Lao thanh quản phần lớn lây từ lao phổi hở qua đường thở, rất ít lao bắt nguồn từ thanh quản. Các tổn thương có thể được chia thành:

Kiểu thâm nhiễm: biểu mô niêm mạc dày lên. Có thể thấy nốt lao điển hình ở lớp đệm, với mức độ tăng sinh mô sợi và thâm nhiễm tế bào lympho ở mức độ khác nhau.

Dạng loét: Đặc trưng bởi sự hình thành các vết loét do lao. Bề mặt của vết loét có biểu hiện hoại tử khô và tàn khốc. Bên dưới có mô hạt lao và mô sẹo xơ. Biểu mô vảy gần vết loét thường có biểu hiện tăng sản nhú rõ ràng hoặc giả biểu mô. Tăng sản dạng khối u.

Dạng cục: mô liên kết dạng sợi ở các ổ lao rõ ràng là tăng sinh tạo thành khối. Các nốt lao thường được bao bọc bởi một lượng lớn mô xơ, hoại tử thường không rõ ràng. Bệnh lao thanh quản dễ lây lan sang các mô lân cận và lây lan theo đường bạch huyết gây lao hạch cổ.

Những biểu hiện cho thấy bạn mắc bệnh thanh quản do lao

bệnh lao giai đoạn đầu

Một số triệu chứng của bệnh lao.

1. Khàn giọng: Khàn giọng là triệu chứng chính của bệnh lao. Khản tiếng có xu hướng xuất hiện sớm hơn trong quá trình bệnh, nhưng tiến triển nhanh hơn. Mức độ khàn nhẹ khi mới khởi phát, nặng dần khi bệnh tiến triển nặng hơn. Có thể mất hẳn ở giai đoạn muộn.

2. Khó chịu vùng họng và đau họng: Ở giai đoạn đầu của bệnh, người bệnh có biểu hiện ngứa ngáy, nóng rát và khô họng. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể bị đau họng, nặng hơn khi nuốt. Đau họng đặc biệt nghiêm trọng khi có liên quan đến perichondrium thanh quản.

3. Ho và có đờm: Người bệnh có thể bị ho do tổn thương vùng hầu họng gây kích ứng niêm mạc họng, ngoại trừ đờm nhớt và nhầy. Một số trường hợp có thể có đờm lẫn máu, thường xuyên hơn khi ho nặng.

4. Khó thở và khó nuốt: Người bị bệnh lao thanh quản tổn thương rộng ở họng. Có thể khó thở và khó nuốt do tăng sản hạt và phù nề mô mềm.

5. Triệu chứng toàn thân: Hiếm gặp các biểu hiện toàn thân của bệnh lao như sốt nhẹ về chiều, đổ mồ hôi trộm về đêm, sụt cân, mệt mỏi và ho ra máu.

Bệnh nhân nặng còn có thể có triệu chứng liệt dây thanh, tắc thanh quản. Nguyên nhân là do bệnh lao có thể gây liệt dây thanh một bên hoặc hai bên khi liên quan đến khớp tuần hoàn hoặc dây thần kinh thanh quản tái phát. Biểu hiện như khàn giọng, khó nói, mất tiếng, ăn uống bị sặc ho, khó thở,… Gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Chẩn đoán

Việc chẩn đoán và điều trị lao thanh quản cần dựa vào kết quả khám bệnh.

Chụp X-quang phổi khi nghi ngờ mắc bệnh. Nhưng một số ít bệnh nhân có thể không có kết quả dương tính ở phổi, hoặc chỉ có canxi hóa hoặc tổn thương cũ.

Kiểm tra vi khuẩn bao gồm xét nghiệm đờm tìm trực khuẩn tiết axit nhanh và nuôi cấy vi khuẩn. Phương pháp thứ nhất đơn giản và dễ thực hiện, nhưng kết quả âm tính không thể phủ nhận chẩn đoán. Phương pháp thứ hai mất quá nhiều thời gian.

Sẽ cần có thời gian để công nghệ chẩn đoán gen bệnh lao được đại diện bởi các đầu dò PCR, DNA và rRNA được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.

Bệnh lao thanh quản là một bệnh nguy hiểm nếu không được phát hiện sớm và chữa kịp thời. Khiến người mắc chịu đau đớn và ảnh hưởng hưởng đến cuộc sống sinh hoạt. Đôi khi còn có thể gây mất giọng nói!

Bình luận